Thánh Độ Mệnh 2020
Mùng
3 tết Canh Tý (27/1/2020), Nam có đến một ngôi chùa ở BRVT và đã thỉnh được một
vị THÁNH ĐỘ MỆNH đó là: tôn giả ni Ba La
Giá Na.
Cụ
thể là Nam nhận được một khung ảnh tôn giả và một quyển sách để tụng đọc.
VII.
THƠ TỤNG
Cúi đầu thành kính dâng lên
Ngợi ca bậc Thánh vượt miền tử sinh
Trải bao dâu bể điêu linh
Đau thương mất mát thất kinh tủi sầu
Vô thường có đợi ai đâu
Gái trai, già trẻ, nghèo, giàu thế
thôi
Có gì chắc thật trên đời
Bên ta mãi mãi không dời đổi thay
Đời này nào mấy ai hay
Sướng vui buồn khổ cũng vì nhân duyên
Nên đời chua xót ưu phiền
Lệ tuôn nhân thế còn hơn hải hồ
Trong cơn tuyệt vọng vô bờ
Cũng là đến lúc duyên xưa tìm về
Bao đời Ngài đã nguyện thề
Nghiêm trì giới luật để mà tiến tu
Lời nói, cử chỉ, đứng đi…
Trang nghiêm, chuẩn mực tùy nghi phi
thường
Tăng đoàn Ni chúng noi gương
Đệ Nhất Trì Luật trong từng phút giây
Chúng con quỳ xuống nơi đây
Dâng lời tán than lên Ngài Giá Na
Cùng nhau gian khó vượt qua
Hiểu rằng mình cũng như là bụi thôi
Vô thường sẽ đến nay mai
Nên không khờ dại đắm say thứ gì
Con đường chánh Pháp bước đi
Từng điều lầm lỗi khắc ghi sửa mình
Yêu thường khắp cả chúng sinh
Cùng nhau soi xét tâm mình dở hay
Nguyên đem chánh Pháp Như Lai
Gieo vào nhân thế vạn loài trầm luân
Chúng con nguyện sẽ tinh cần
Vun bồi công đức thiện căn sâu dày
Nguyện cho cả pháp giới này
Sống trong hòa hợp từng ngày an vui.
Nam
Mô Ba La Giá Na Tôn Giả (3 lần)
TÔN GIẢ NI BA LA GIÁ NA
(PATACARA)
ĐỆ
NHẤT TRÌ LUẬT NI ĐOÀN
Ai sống một trăm năm
Không thấy Pháp sinh diệt
Chẳng bằng sống một ngày
Thấy được Pháp sinh diệt
I.
XUẤT THÂN
Tôn giả Ba La
Giá Na (Patacara) sinh ra trong một gia đình giàu có tại kinh thành Xá Vệ
(Savatthi), đất nước Kiều Tát La (Kosala). Từ nhỏ, Ngài sống hạnh phúc trong sự
bao bọc và chở che của gia đình. Đến tuổi trưởng thành, Ngài đã đem lòng thương
mến một gia nhân giúp việc và quyết định lập gia đình với người này. Hai người
đến sống trong một ngôi làng hẻo lánh cách xa phố thị.
Kể từ đó, những
khổ đau của cuộc đời bắt đầu đổ về dồn dập. Từ một tiểu thư đài các, Ngài bỗng
trở thành nghèo khổ, sống nơi thôn quê trong căn nhà đất đơn sơ, chẳng có đủ vật
dụng. Hằng ngày, Ngài phải tự làm tất cả những công việc mà trước đây chỉ dành
cho tôi tớ, phải chi tiêu tằn tiện từng đồng tiền ít ỏi mà người chồng mang về.
Cuộc sống của hai vợ chồng vô cùng chật vật và vất vả.
Lần mang thai
thứ nhất, Ngài muốn về quê ngoại để hạ sinh theo tục lệ truyền thống nhưng người
chồng không đồng ý. Vậy là Ngài một mình bước đi, cuối cùng trở dạ giữa đường,
đành phải quay về.
Đến kỳ sinh nở
lần thứ hai, lần này hai vợ chồng dắt theo đứa con được vài tuổi rời khỏi ngôi
làng. Họ đi men theo một con đường mòn quanh núi, xung quanh thưa thớt người
qua lại. Đến giữa đường, bỗng nhiên bầu trời ngả màu xám xịt, giông gió nổi
lên, rồi trời bắt đầu đổ mưa tầm tã. Cơn mưa ập đến quá bất ngờ, người chồng dựng
tạm một căn lều cho vợ con trú tạm rồi vội vã vào rừng kiếm thức ăn và củi đốt.
Thế nhưng, người chồng đi mãi không về. Chỉ còn người phụ nữ đơn độc và đứa con
thơ với biết bao thấp thỏm, sợ hãi.
Đêm đã về
khuya, bên ngoài gió vẫn giật mạnh, mưa không ngừng xối xả làm ngả nghiêng cả
cây rừng. Chồng vẫn chưa trở về, ngay lúc đó, Ngài bỗng trở dạ. Nhìn đứa con được
sinh ra trong căn lều lụp xụp, Ngài ngậm ngùi đau xót.
Trời sáng,
sau cơn mưa lớn cảnh vật thật hoang tàn. Ngài bước ra ngoài tìm thì thấy người
chồng nằm bất động nằm cách đó một đoạn. Toàn than ông lạnh ngắt, tím tái, ông
đã qua đời vì bị một con rắn độc cắn.
Ngài lặng người rồi òa lên khóc thảm thiết. Thế nhưng, xung quanh vô
cùng quạnh vắng, không có làng mạc, không có làn khói của ngôi nhà nào bốc lên,
không có cả một bóng người qua lại. Hoàn toàn không thể mong chờ vào sự trợ
giúp nào. Đứa bé sơ sinh thì đang khóc ngặt cả giọng. Ngài đành xót xa để xác
chồng lại, một tay ẵm đứa bé mới sinh, tay kia dắt đứa lớn hơn tiếp tục lên đường.
Ngài cứ thế
đi mãi cho đến một khúc sông. Đêm qua, mưa lớn đa làm nước sông dâng lên, cuốn
theo cả đất đá, ngả màu đục ngầu. Xung quanh không hề có thuyền bè nào qua lại.
Không còn cách nào khác, Ngài đành để đứa lớn trên bờ, ôm đứa bé mới sinh lội
qua sông. Khi Ngài đang ở giữa dòng thì
bất ngời từ trên không trung, một con diều hâu sà xuống quặp lấy đứa nhỏ bay đi
mất. Ngài cố nhoài người đuổi theo, vẫy cùng, la hét giữa dòng nước xiết nhưng
cũng đành bất lực. Trớ true thay, đứa con trai lớn nghe thấy tiếng kêu tưởng mẹ
gọi liền chạy tới, không may rơi xuống sông và bị dòng nước chảy xiết cuốn
trôi. Ngài lặng câm như hóa đá, đớn đau, nước mắt cạn khô, chẳng thể thốt lên lời
nào. Thế là Ngài đã mất chồng và hai con chỉ trong một ngày.
Chỉ còn một
tia hi vọng cuối cùng, Ngài dốc hết sức trở về Xá Vệ để tìm gặp cha mẹ. Thế
nhưng, ngôi nhà cũ giờ đây cũng chỉ còn là một đống đổ nát. Ngày trong đêm hôm
trowcs, cơn bão đã làm căn nhà đổ sụp và cướp đi sinh mạng của cha mẹ Ngài cùng
người em trai.
Nỗi đau xâu
xé tâm can. Đất trời như quay cuồng, Ngài trở nên thẫn thờ, cứ chạy lang thang
khóc than trong vô thức…
II.
BẾN BỜ NƯƠNG TỰA
Một ngày,
trong tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), khung cảnh thật yên bình. Đức Thế Tôn đang ngự
trên pháp toàn thuyết Pháp cho tứ chúng đệ tử. Bỗng nhiêm, ngìa Ba La Giá Na chạy
vào giữa giảng đường, gương mặt lắm lem, mái tóc rối bời, làm xôn xao cả hội
chúng. CÁc cư sĩ vội đứng ra chặn giữ lại nhưng Đức Thế Tôn ra hiệu cứ để cho
Ngài vào. Từ trên tòa cao, Thế Tôn cất lời đầy bi mẫn:
-
Này Ba La Giá Na, hãy tỉnh lại đi con.
Lời nói nhẹ
nhàng nhưng vang động khiến tâm tư bừng tỉnh. Ngay lúc đó, ngài nhớ ra mọi chuyện,
liền quỳ xuống, xúc động đảnh lễ dưới chân Thế Tôn rồi kể lại câu chuyện bi
thương của mình.
Thế Tôn dịu
dàng nói:
-
Này Ba La Giá Na, trên đời này, tất cả
chúng sinh rồi cũng sẽ phải trải qua mất mát thương đau. Có người mất người
thân cùng một lúc, có người phải chứng kiến người than lần lượt ra đi. Nhưng ai
rồi cũng sẽ mất đi tất cả những người than yêu của mình. Nước mắt dổ xuống còn
nhiều hơn nước trong đại dương. Thế gian này là vô thường, thế gian này là khổ
đau.
-
Này Ba La Giá Na, chỉ có ai đã ở bên
kia bờ sinh tử, đã biết buông lìa tham lam, sân hận, dục vọng, đã thấy rõ bản
chất trống rỗng, khổ, vô thường, vô ngã của cuộc đời, người đó mới thực sự có
nơi nương tựa vững chắc.
Đức Thế Tôn vừa
dừng lời, Ngài Ba La Giá Na bất ngờ chứng đắc quả vị Dự Lưu, bước chân vào dòng
Thánh. Ngài phủ phục dưới chân Thế Tôn:
-
Kính bạch Thế Tôn! Xin cho phép con được
là đệ tử xuất gia của Người.
Đức Phật im lặng
nhận lời. Kể từ đó Ngài khoác lên mình tấm y ca sa, sống đời phạm hạnh. Ni đoàn
trở thành mái ấm thiêng liêng che chở cuộc đời Ngài.
III.
CHỨNG ĐẠO
Một buổi chiều,
Tôn giả ngồi bên giếng giặt đồ. Khi các tấm y đã được giặt xong, Ngài đổ nước
xuống nền đất trống. Trông thấy những dòng nước chảy tràn ra rồi thấm vào đất,
Ngài bỗng thâm nhập tuệ quán.
Có dòng nước
vừa mới đổ ra đã thấm ngay vào lòng đất. Đó giống như những chúng sinh có một
kiếp sống ngắn ngủi, giống các con của Ngài, vừa mới mở mắt nhìn cuộc đời đã phải
vội chia ly. Có dòng nước trôi nhanh, đi được xa hơn nhưng rồi cũng mất hút vào
lòng đất. Chẳng khác nào những chúng sinh sống đến tuổi trưởng thành, đang mải
mê trong vòng cuốn của cuộc đời như em trai, chồng của Ngài. Có dòng nước lan
qua những đám cỏ, chảy tận đến cuối dốc rồi cũng ngấm thẳng xuống đất lạnh. Giống
như những chúng sinh sống được đến tuổi già, đã trải qua mọi vui khổ đắng cay,
rồi cũng đến lúc phải rời bỏ thế gian như cha mẹ của Ngài. Mọi dòng nước cuối
cùng đều sẽ biến mất vào lòng đất. Mọi sinh mệnh trên thế gian rồi cũng phải kết
thúc. Có người mất sớm, người mất sau nhưng không ai có thể thoát khỏi bàn tay
của tử thần. Có sinh là có diệt. Thế gian này là vô thường. Tất cả mọi việc
trên đời đều thay đổi như vậy.
Những suy
nghiệm về sự vô thường hiện hữu trong tâm trí, Ngài lấy đó làm đề mục thiền
quán và tinh tấn nỗ lực thực hành.
Một hôm, khi
trời đã khuya, Ngài trở về tịnh thất để nghỉ ngơi. Ngài giữ chánh niệm và dập tắt
ngọn đèn. Ngọn đèn vừa tắt lụi thì tâm trí Ngài cũng bừng sáng. Tôn giả Ba La
Giá Na ngay khoảnh khắc đó chứng đắc Thánh quả A La Hán, viên mãn giải thoát
giác ngộ, chấm dứt mọi khổ đau của luân hồi. Giữa đêm khuya, căn tịnh thất của
Ngài ngời rạng…
IV.
ĐỆ NHẤT TRÌ LUẬT
Trải qua một
cuộc đời đầy thương đau bất hạnh, Tôn giả Ba La Giá Na đã thấu hiểu sâu sắc về
sự vô thường của cuộc đời. Trong Ni chúng, Ngài luôn lắng nghe những lời chỉ bảo,
học hỏi kinh nghiệm của các bậc Trưởng lão để có thể cư xử hợp lý khi đối mặt với
các tình huống phức tạp. Trong đời sống của tu sĩ, giới luật chính là những biểu
hiện cụ thể và thực tế của giáo Pháp mà Đức Thế Tôn đã giảng dạy. Và Ngài thấy
rằng việc nghiêm trì giới luật là vô cùng cần thiết để đạt được nội tâm bình an
và tiến bước trên con đường tu học.
Bởi vậy, ngay
từ khi mới xuất gia, Tôn giả Ba La Giá Na đã nỗ lực phi thường trong việc giữ
gìn giới Pháp. Từng lời nói, cử chỉ, từng cách đi, dáng đứng, khi chào hỏi, lúc
hành thiền, khoác y hay mang bát đều luôn nghiêm trang, chuẩn mực. Ngài trở
thành tấm gương sáng cho chư Ni noi theo.
Trong khoảnh
khắc chứng đạo, Tôn giả đồng thời thành tựu được trí tuệ phân tích thâm sâu mọi
vấn đề. Vì thế, Ngài nhanh chóng tinh thông các giới luật của Ni đoàn và còn thực
hành giới một cách vô cùng khéo léo, tinh tế. Ngài nghiêm trì giới trong từng
điều nhỏ mà không bao giờ cố chấp vào nguyên tắc. Sau này, Tôn giả còn là một
giáo thọ lỗi lạc và nổi tiếng. Đệ tử xuất gia và tại gia được Ngài hóa độ rất
đông. Ngài thường thuyết Pháp về sự vô thường, nỗi khổ đau của cuộc đời và đặc
biệt hướng dẫn các đệ tử trong việc rèn luyện giới đức tinh nghiệm. Nhờ có sự
chỉ dạy của Ngài, nhiều vị đã chứng đức được đạo quả A La Hán, viên mãn giải
thoát giác ngộ.
Một lần, giữa
hội chúng rất đông các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni, Đức Thế Tôn đã tán than Tôn giả
Ba La Giá Na với danh hiệu Đệ Nhất Trì Luật trong Ni chúng.
Để thành tựu
điều đó, vào thời Đức Phật Thắng Liên Hoa (Padumuttara), Ngài đã phát nguyện để
thành tựu công hạnh Đệ Nhất Trì Luật và được Đức Phật thọ ký. Từ đó, trong nhiều
kiếp, Ngài thường để tâm nghiên cứu, học hỏi về luật, sống theo luật nghi và
chu toàn hạnh kiểm rất gương mẫu. Đặc biệt, trong các kiếp đó, Ngài cũng thường
xuất gia làm Tỳ kheo Ni, dành trọn cuộc đời trong phạm hạnh. Cuối cùng, đến thời
Đức Phật Thích Ca, hạnh nguyện đó đã được viên thành.
Tôn giả Canda
là vị Tỳ kheo Ni có hoàn cảnh khốn khó, đã được Ngài Ba La Giá Na ân cần chỉ dạy,
giáo giới từ những ngày đầu xuất gia. Sauk hi chứng đắc Thánh quả A La Hán, vị ấy
đã biểu lộ lòng tri ân của mình với Ngài bằng bài kệ:
Ngài hướng con đi về giác ngộ
Ân tình trĩu nặng nguyện khắc sâu
Từng lời Ngài trao con đã rõ
Vô Ngã bừng lên thoát khổ sầu.
V.
KẾT
LUẬN
Tôn giả Ba La
Giá Na là vị Tỳ kheo Ni có danh hiệu Đệ Nhất Trì Luật trong Ni chúng. Dù trải
qua cuộc đời đầy mất mát đau thương nhưng với duyên lành đã gieo từ nhiều kiếp
và một ý chí phi thường, Tôn giả đã tu tập chứng đắc Thánh quả A La Hán và trở
thành một vị giáo thọ lỗi lạc, giáo hóa cho nhiều vị Tỳ kheo Ni và cư sĩ chứng
đạo. Cuộc đời của Ngài để lại nhiều bài học sâu sắc cho chúng sinh noi theo.
Vâng theo lời
chỉ dạy của Ngài, chúng con nguyện luôn ý thức về sự vô thường và khổ đau của
thế gian, siêng năng tu tập, học hỏi giáo Pháp, giữ gìn giới luật và tinh tấn
thiền định trong từng phút giây của cuộc sống, để một ngày chúng con cũng có thể
vượt thoát khỏi trầm luân sinh tử.
Chúng con
cũng nguyện tu tập lòng từ bị à nỗ lực mang chánh Pháp của Đức Như Lai đến với
tất cả chúng sinh, kể cả những cuộc đời đầy lầm lỗi thương đau để có thể xóa
vơi đi nỗi khổ trên cuộc đời này.
VI.
Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH
Tôn giả Ba La
Giá Na (Patacara) là vị A La Hán ưu tú trong Ni chúng. Ngài được Đức Phật tán
thán là Tỳ kheo Ni có công hạnh Đệ Nhất Trì Luật. Sau khi xuất gia, Ngài nhanh
chóng tinh thông các giới luật của Ni đoàn và trì giới vô cùng khéo léo, tinh tế
trong từng điều nhỏ mà không bao giờ cố chấp vào nguyên tắc. Không chỉ vậy,
Ngài còn là một giáo thọ lỗi lạc và nổi tiếng. Ngài thường thuyết giảng về sự
vô thường, nỗi khổ đau của cuộc đời và đặc biệt hướng dẫn các đệ tử việc rèn
luyện giới đức tinh nghiêm. Rất nhiều đệ tử xuất gia và tại gia được Ngài giáo
hóa đã chứng đắc được các quả vị Thánh cao siêu.
Khi thờ kính
Ngài quý Phật tử sẽ:
-
Nghiêm
trì giới luật một cách tinh tế. Có được nội tâm bình an và tiến bước trên con
đường tu học.
-
Dần
trở thành người có uy đức lớn. Từng cử chỉ lời nói luôn chuẩn mực, được nhiều
người quý kính.
-
Thường
được chư Phật gia hộ để vượt qua hoàn cảnh khó khăn. Có ý chí tinh tấn phi thường
trong tu tập tâm linh nên sẽ đạt nhiều thành tựu tốt đẹp. Gặp nhiều may mắn,
thuận lợi trong cuộc sống.
Nguồn:
TCQ
NHẬN XÉT CỦA NAM:
Ý NGHĨA XUYÊN SUỐT CÂU CHUYỆN CỦA NGÀI BA LA GIÁ NA ĐÓ LÀ VÔ THƯỜNG
MỌI THỨ TRÊN ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG. CUỘC ĐỜI
CON NGƯỜI GIỐNG NHƯ MỘT DÒNG CHẢY CỦA NƯỚC. MỖI MỘT CON NGƯỜI NHƯ LÀ HẠT NƯỚC
(TẠM SO SÁNH NHƯ LÀ HẠT CÁT), CÓ HẠT NƯỚC CHẢY LÂU THẬT LÂU MỚI NGẤM XUỐNG ĐẤT,
CÓ HẠT NƯỚC THÌ NHANH, NHƯNG SUY CHO CÙNG TẤT CẢ ĐỀU PHẢI VỀ ĐẤT.
+ ĐỂ TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CHÚNG TA PHẢI
KHÔNG NGỪNG QUÁN TƯỞNG VỀ VÔ THƯỜNG. CHẲNG HẠN:
KHI CHÚNG TA CẮT MÓNG TAY, THÌ MỘT THỜI GIAN SAU NÓ LẠI MỌC DÀI RA. ….
=> KHI
CHÚNG TA QUÁN TƯỞNG NHIỀU VỀ VÔ THƯỜNG, CHÚNG TA SẼ THẤY CHÚNG TA KHÔNG CÒN
QUAN TRỌNG NỮA, MÀ LÀ VIỆC GIÚP ĐỠ NGƯỜI KHÁC SỐNG AN VUI, TỐT ĐẸP HƠN MỚI LÀ
ĐIỀU QUAN TRỌNG. CHÚNG TA SẼ KHÔNG SỬ DỤNG SỨC KHỎE VÀO NHỮNG VIỆC VÔ BỔ, PHÍ
PHẠM THỜI GIAN. CHÚNG TA SẼ GIẢM DẦN LỐI SỐNG HƯỞNG THỤ.
